Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

 

Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấpHưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

Vào ngày thứ 2 sau khi ấp bắt đầu soi

Vào ngày 2 sau khi ủ bắt đầu
Đầu bắt đầu xảy ra cùng với đôi mắt và tim và các mạch máu bắt đầu phát triển.

Ngày thứ 4
Não bộ được chia thành các não trước, não giữa, và não sau này.
Trái tim phát triển lớn hơn và các mạch máu lan rộng vào các phim của lòng đỏ.

Ngày thứ 6
Cánh và chân tay bắt đầu xuất hiện và bộ não và mắt trở nên rõ ràng.
Phôi bắt đầu di chuyển của chính nó.

Ngày thứ 8
Bộ não được giải quyết vào đầu hoàn toàn.
Cổ trở nên dài hơn, dự luật phát triển đáng kể; và cánh và chân tay được tách ra.

Ngày thứ 10
Cánh và chân tay được tách hoàn toàn và hình thức các ngón chân.
Tip tip phá vỏ trứng bắt đầu xảy ra và lông bắt đầu phát triển.

Ngày thứ 12
Nó trở nên lớn hơn và bắt đầu nghe thấy lần đầu tiên. Lông phát triển để bạn có thể nhìn thấy chúng và khung trở nên rắn.

Ngày thứ 14
Với sự đầu hạ xuống về phía thân cây, lại bị bẻ cong sang trái.
Lông che phủ toàn bộ cơ thể với người đứng đầu về phía buồng khí.

Ngày thứ 16
Khi đầu di chuyển đến dưới cánh phải, nó lắng xuống ở một vị trí tốt cho nở

Ngày thứ 18
Lượng nước ối giảm và con con chuẩn bị cho nở.
Đó là thời gian để dừng đảo trứng. tới đây là thành gà vịt lộn rồi đấy ăn rất bổ

Ngày thứ 19
Buồng không khí trở nên lớn hơn và lòng đỏ được giải quyết trong cơ thể.
Dự luật này được tổ chức ra về phía buồng phổi không khí và hơi thở bắt đầu.

Ngày thứ 20
Lòng đỏ này được giải quyết hoàn toàn trong cơ thể và rốn không đóng được.
Lòng đỏ đó vào trong cơ thể sẽ trở thành một dinh dưỡng cho 2-3 ngày sau khi ủ úm.

Ngày thứ 21
Gà bắt đầu sử dụng mỏ phá vỏ trứng để phá vỡ vỏ.
Theo thời gian, nó sử dụng tay chân để đẩy vỏ và quay vòng để phá vỡ nó tròn.
Độ ẩm thấp có thể gây ra lông khô-up để dính vào vỏ, ngăn chặn các con con từ quay tròn và vì thế từ khi nở.
Nó mất khoảng 1- 2 giờ để phá vỡ vỏ hoàn toàn và được ra khỏi quả  trứng.

Thông tin liên hệ:
Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại: 

A. Thanh: 0908906938

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Advertisement

Cách tạo ra 1 máy ấp trứng đơn giản

Cách tạo ra 1 máy ấp trứng đơn giảnCách tạo ra 1 máy ấp trứng đơn giản

Chúng tôi xin tư vấn cho bà con nông dân cách tạo ra máy ấp trứng đơn giản mà hiệu quả.

Để tạo ra một máy ấp trứng phải đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:

– Bảo đảm nhiệt độ thích hợp (37-38 ºC) và tương đối ổn định theo từng giai đoạn của mỗi đợt ấp;

– Bảo đảm độ ẩm thích hợp (50-80%) và tương đối ổn định theo từng giai đoạn của mỗi đợt ấp;
– Bảo đảm thông gió thoáng khí nơi tủ ấp;
– Bảo đảm đảo trứng thường xuyên (1-3 h 1lần).

Nguyên lý cấu tạo chung của một máy ấp trứng bao gồm:

1. Thùng máy và giàn khay trứng
– Thùng máy thường có dạng hình hộp bằng gỗ và có thể bọc tôn, nhôm ngoài mặt, đáy để tăng cứng vững; có cửa lớn phía trước để đưa trứng vào ra, có cửa kính để quan sát trong máy, nhiệt kế, ẩm kế; có cửa sổ phía sau để mở và chăm sóc máy bên trong … Ngoài ra còn có cửa thoát gió, thoát khí thải trong máy.
– Giàn là một bộ khung, thường bằng kim loại, để đặt các khay trứng, có thể xoay nghiêng bên phải, bên trái để đảo trứng. Giàn thường có 2 kiểu: giàn trống và giàn tầng.
– Khay xếp trứng ấp (Khay ấp) thường hình chữ nhật, bằng gỗ, kim loại hoặc nhựa có những thanh ngăn giữ trứng. Khe giữa các thanh có thể thay đổi rộng hẹp để phù hợp kích thước to nhỏ của các loại trứng.
– Khay xếp trứng nở (Khay nở) cũng hình chữ nhật, có đáy bằng lưới thép (lỗ vuông hoặc tròn). Khi tới ngày nở, khay nở được đặt lồng dưới các khay ấp, để con nào nở sẽ tụt xuống khay nở, hoặc được chuyền các trứng từ khay ấp sang khay nở để đưa ra máy nở. Khi đảo trứng, các khay ấp sẽ nghiêng cùng với khung giàn một góc 45-470 so với mặt ngang, lần lượt theo 2 phía đối xứng.

2. Bộ tạo nhiệt và bộ điều nhiệt

Bộ tạo nhiệt làm việc theo các nguyên lý sau:
– Bằng nước nóng: nước đun ngoài đổ vào bình tạo nhiệt đặt trong máy, phía trên.
– Nước nóng đun bằng đèn dầu: nước nóng lưu thông theo ống dẫn trong máy bằng cách đối lưu để cấp nhiệt cho trứng.
– Bằng điện: dùng các dây điện trở đốt nóng, khi có dòng điện qua sẽ toả nhiệt cho máy.
Bộ điều nhiệt thường gồm một bộ cảm biến nhiệt đặt trong máy, tác động vào bộ đóng ngắt mạch điện cung cấp cho dây điện trở tạo nhiệt.
Ở máy ấp trứng bằng nước nóng, đun đèn dầu thường dùng bộ cảm biến nhiệt kiểu bầu ête để tác động vào bộ phận đóng mở ống khói nóng của đèn dầu đun nước, nhờ đó mà tự động điều nhiệt được.

3. Bộ tạo ẩm và bộ điều ẩm

Làm việc theo nguyên lý sau:
– Dẫn nước hay đổ nước vào máng tạo ẩm đặt trong máy để nước bốc hơi tạo ẩm. Cách này thủ công, đơn giản, không đảm bảo tốt yêu cầu độ ẩm ổn định, khó điều ẩm tốt được.
– Vung nước qua cánh quạt trong máy, nước từ bình chứa đặt cao hay từ mạng ống cung cấp chung của trại, qua van nước, ống dẫn vào bầu, để rồi theo ống dẫn hàn dọc các cánh quạt gió mà vung ra xung quanh, xuyên qua các lỗ nhỏ của vành lưới thép bao xung quanh, sẽ tạo thành lớp sương mù gây ẩm trong máy.
– Bộ điều ẩm thường gồm một bộ cảm biến ẩm đặt trong máy để tác động vào bộ phận ngắt van nước để đóng ngắt dòng chảy vào máy, khi độ ẩm thấp hay cao quá mức qui định.

4. Bộ thông gió và bộ điều gió

Bộ thông gió ở các máy ấp trứng đều là quạt hướng trục, lắp ở giữa thành sau bên trong máy. Cửa hút gió được bố trí gần trục quạt có nắp điều gió, điều chỉnh độ mở bằng tay. Cửa thoát gió thường bố trí trên nóc máy hay ở thành trước máy, có nắp điều gió, đóng mở bằng tay.

5. Bộ đảo trứng

Bao gồm có các nguyên lý làm việc sau:
– Dây kéo: dùng ở một số máy ấp trứng cỡ nhỏ, trong đó khay trứng có các đũa tròn xoay được, quấn một dây chung sao cho khi đảo, ta kéo một đầu dây thì các đũa xoay đủ để trứng xoay theo một góc nào đó.
– Tay quay: dùng ở máy ấp trứng có giàn trống, dùng tay quay trống nghiêng một góc 45-470 (so với mặt nằm ngang) lần lượt cả hai phía theo từng thời gian qui định.
– Động cơ điện quay: dùng cho mọi kiểu giàn trứng, thường gồm động cơ điện, bộ giảm tốc, bộ truyền động và cụm tiếp điểm cuối.

6. Bộ điều khiển và báo hiệu

Thường bao gồm: những bộ khởi động từ, những cụm tiếp điểm tổng, những rơle điện từ, cầu chì, nút bấm, cụm đầu nối điện, chuông đèn báo hiệu.

7. Bộ phận phụ trợ

Máy ấp trứng còn có những bộ phận phụ trợ như: giàn chuyển trứng, bộ bánh xe chuyển giàn trứng, bàn chuyển trứng, thang, dụng cụ soi trứng.

Trên đây là toàn bộ nguyên lý cấu tạo chung của các bộ phân của máy ấp trứng. Tuỳ theo điều kiện của gia đình cũng như địa phương bạn mà lựa chọn loại thiết bị cũng như công suất để lắp đặt một chiếc máy ấp trứng cho phù hợp.
Để có thể sở hữu một máy ấp trứng với đầy đủ các chức năng trên, quý bà con có thể liên hệ với chúng tôi theo địa chỉ sau:

Thông tin liên hệ:
Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại: 

A. Thanh: 0908906938

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Kỹ thuật nuôi gà thả vườn

 

Kỹ thuật nuôi gà thả vườnKỹ thuật nuôi gà thả vườn

Sau đây chúng tôi xin giới thiệu đến quý vị bà con nông dân kỹ thuật nuôi gà thả vườn

I. KỸ THUẬT CHĂN NUÔI GÀ

1.Chuẩn bị điều kiện nuôi:

Trước khi đem gà về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất kỹ thuật như:

– Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.

– Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn gà.

– Chuồng nuôi đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.

– Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.

– Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10 cm được phun sát trùng khi sử dụng.

– Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.

a. Chuồng trại:

Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để cất chuồng gà. Nên cất chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng sáng và tránh được nắng chiều.

Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn, 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).

Nếu nuôi gà thả vườn,chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ là ít nhất 1 con/m2.

Mặt trước cửa chuồng hướng về phía đông nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5 m để thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.

Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ… tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn chơi, buổi tối cho gà về chuồng.

b. Lồng úm gà con:

– Kích thước 2m x 1 m cao chân 0,5 m đủ nuôi cho 100 con gà.

– Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75 W dùng cho 100 con gà).

c. Máng ăn:

– Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải cám tấm trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.

– Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.

– Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.

d. Máng uống:

Đặt hoặc treo xen kẻ các máng uống với máng ăn trong vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.

e. Bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà:

Gà rất thích tắm cát.

Đối gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và diêm sinh cho gà tắm. Kích thước bể dài 2 m, rộng 1 m, cao 0,3 m cho 40 gà.

Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.

f. Dàn đậu cho gà:

Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.

Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5 m, cách nhau 0,3-0,4 m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.

* Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.

* Vườn chăn thả: 1 m2/1 gà.

2. Chọn giống:

– Nuôi thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng…..

– Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri….

* Chọn giống gà con:

– Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.

– Chọn những con nhanh, mắt sáng,lông bông, bụng gọn, chân mập.

– Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.

* Chọn gà đẻ tốt:

– Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.

– Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.

– Mắt sáng,lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.

– Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.

– Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.

3. Chăm sóc nuôi dưỡng:

Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc Vitamine C, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày.Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.

Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1 gr/10 kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.

Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rủ cần cách ly ngay để theo dõi.

Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.

Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.

Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.

Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.

Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.

Chú ý: Không nuôi nhiều cở gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.

 

4.Thức ăn cho gà:

Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rửa.

Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.

Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.

Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.

– Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.

– Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.

Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.

– Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.

5. Vệ sinh phòng bệnh:

Vệ sinh phòng bệnh là vấn đề là công tác chủ yếu, đảm bảo “Ăn sạch, ở sạch, uống sạch”. Nên chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.

Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn.

a. Những nguyên nhân gây bệnh

– Gia cầm non, gia cầm bị suy yếu, giống mẫn cảm với bệnh.

– Môi trường sống:

+ Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh.

+ Nước uống phải sạch.

+ Không khí, nhiệt độ ….

b. Sức đề kháng của cơ thể gia cầm:

– Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể.

– Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).

c. Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh:

* Vệ sinh phòng bệnh:

– Thức ăn tốt.

– Nước sạch.

– Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.

– Chuồng nuôi sạch.

– Quanh chuồng nuôi phải phát quang.

– Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.

* Phòng bằng Vaccine:

Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh:

– Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.

– Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.

– Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.

Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.

*Phòng bằng thuốc:

– Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol…

– Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,…

Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ

d. Phòng bệnh:

Thời gian Bệnh Phương thức
1 ngày

Marek

Rumboro

Dịch tả

Nhúng ngập mũi

10 ngày

Gumboro

Đậu

Nhỏ mũi, xuyên da cánh

21 ngày Dịch tả Nhỏ mũi, uống
28 ngày Gumboro Nhỏ mũi, uống
56 ngày Dịch tả Uống
105 ngày CRD Chích bắp

 

Trong giai đoạn gà đẻ, chỉ sử dụng kháng sinh khi gà bệnh.

Sau 6 tháng đẻ, ngừa lại các bệnh dịch tả, tụ huyết trùng, Gumboro cho đàn mái đẻ.

 

II.MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP Ở GÀ

BỆNH CẦU TRÙNG

1. Nguyên nhân:

Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do người ta, súc vật… vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát.

Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.

Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền.

2. Triệu chứng:

Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi.Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.

3. Bệnh tích:

Manh tràng sưng to, chân đầy máu.Ruột sưng to.Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu.

4. Phòng bệnh.

Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.

Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà.

Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày).

+ Anticoc 1gr/1 lít nước.

+ Baycoc 1ml/ 1 lít nước.

5. Trị bệnh:

Tăng liều gấp đôi liều phòng

 

BỆNH THƯƠNG HÀN (Salmonellosis)

1. Nguyên nhân:

Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh.

2. Triệu chứng:

Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối.Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.

3. Bệnh tích:

– Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.

– Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó.

4. Phòng bệnh:

Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh:

– Oxytetracyclin: 50-80 mg /gà/ngày, dùng trong 5 ngày.

– Chloramphenical: 1 gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.

5. Trị bệnh:

Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh.

 

BỆNH DỊCH TẢ (Newcastle disease)

1. Nguyên nhân:

Bệnh do virus gây, lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi.

Gà mọi lứa tuổi đều mắc bệnh.

2. Triệu chứng:

Thường biểu hiện ở 2 thể: cấp tính và mãn tính.

a.Thể cấp tính: Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết.

Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).

Tiêu chảy phân màu xanh – trắng, diều căng đầy hơi.

Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi.Tích, mào tím xanh.

Nếu sau 4-5 ngày gà không chết, sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững.

Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%.

b. Thể mãn tính:

Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ…. Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.

3. Bệnh tích:

Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus.Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già.

4. Phòng bệnh:

Chủ yếu là bằng vaccine.

5. Trị bệnh:

Dùng các thuốc tăng sức đề kháng: Vitamix, vit-plus,….

 

BỆNH GUMBORO

1. Nguyên nhân:

Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi.

2. Triệu chứng:

Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.

Gà sút nhanh, run rẫy.

Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm.

Tỷ lệ chết: 10-30%.

Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).

3. Bệnh tích:

Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt.

Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to.

-Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.

-Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực.

-Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.

4. Phòng và trị bệnh:

– Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.

– Phòng bằng vaccine.

– Trị bệnh: Chưa có thuốc đặc trị. Chỉ dùng thuốc tăng sức đề kháng vật nuôi.

+ Vitamix: 2 gr/1 lít nước.

+ Vitamine C: 1 gr/ 1 lít nước.

+ Dexa (0,5 gr): 1 viên/ 3-4 con.

Dùng trong 3 ngày liên tục.

Thông tin liên hệ:

Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại: 

A. Thanh: 0908906938

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Một số bệnh lý thường gặp ở ấp trứng gia cầm công nghiệp

 

Một số bệnh lý thường gặp ở ấp trứng gia cầm công nghiệp

Một số bệnh lý thường gặp ở ấp trứng gia cầm công nghiệp

Một số bệnh lý thường gặp ở ấp trứng công nghiệp

 

1. Ấp trứng đã qua bảo quản lâu ngày
Phôi của trứng ấp đã qua bảo quản lâu ngày phát triển chậm, muộn. Gà nở chậm. Nhiều gà con đã mổ được vỏ nhưng không nở được, kéo dài thời gian nở, nở rải rác.Gà con nở ra dính bết và bẩn do lòng trắng chưa tiêu thụ hết.
Nói chung gà con yếu, nặng bụng, tỷ lệ nuôi sống thấp.

2. Bệnh chân, cánh ngắn ( Micromelia )
Phôi biến dị trầm trọng, do sự phát triển xụn, xương của tứ chi kém. Biểu hiện chân và cánh của phôi ngắn. Xương bàn chân cong và to. Xương ống ngắn và cong. Một hiện khác – đầu to, xương hàm và mỏ dưới ngắn, mỏ trên  quặp xuống, lông không bông.
Phôi bị chết sớm đôi khi mình sưng mọng. Nguyên nhân do thiếu dinh dưỡng trong trứng, do đàn gà sinh sản ăn thức ăn không cân đối đầy đủ chất đạm, chất khoáng, kể cả vitamin như vitamin B2 , vitamin H, mangan (Mn).

3. Bệnh khoèo chân ( Perosit )
Biểu hiện các khớp xương nối đùi với xương ống chân và bàn chân bị sưng, gân bị trượt khỏi khớp. Vì vậy làm chân gà bị khoèo về một phía, gà hầu như không đi lại được, hoặc đi bằng khủy chân ( gọi là đi bằng đầu gối ). Những gà khoèo chân loại bỏ, không nên nuôi.
Nguyên nhân là thiếu chất khoáng – mangan (Mn ), axit flic, vtamin H, B12 trong thức ăn cho gà.

4. Bệnh động kinh ( Atexia )
Gà con vừa nở ra cử động hổn loạn; đặc trưng nhất là gà ngả đầu về phía lưng, mặt ngửa lên trời, xoay quanh hình tròn, hoặc đầu gục vào bụng. Nói chung thần kinh không điều khiển được quá trình vận động.
Gà không ăn uống được, kiệt sức và chết ngay trong 1-2 ngày đầu. Nguyên nhân của bệnh là thức ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin như vitamin H, vitamin B2, vitamin B1 và chất khoáng mangan ( Mn ).

5. Bệnh bết dính khi nở 
Hiện tượng này thường xuyên xảy ra khi gà bắt đầu mổ vỏ. Lỗ vỏ trứng mà gà vừa mổ tràn ra một chất lỏng dính màu vàng và khô rất nhanh, làm bịt kính mũi và mỏ của gà con làm gà chết ngạt. Một số trường hợp lỗ vỏ trứng rộng to, gà nở được nhưng chất lỏng nhảy này làm lông dính bết, có khi dính cả vỏ trứng, làm gà không cử động được .
Nguyên nhân là thức  ăn cho gà bố mẹ thiếu vitamin nhóm B, nhất là B2 và BH, nhưng lại thừa chất đạm ( protein ) động vật.

Thông tin liên hệ:
Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại:  

A. Thanh: 0908906938  

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

 

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn theo hướng An toàn sinh học

 

Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn theo hướng An toàn sinh họcKỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn theo hướng An toàn sinh học

Chăn nuôi gà an theo hướng toàn sinh học (ATSH) nhằm đảm bảo an toàn dịch bệnh và đảm bảo vệ sinh môi trường do đó công tác tiêu độc vệ sinh sát trùng phải được thực hiện thường xuyên.

 Trước khi nuôi phải xông xịt sát trùng chuồng trại theo quy định. Trong suốt quá trình nuôi mỗi tuần xịt toàn bộ chuồng trại và khu vực xung quanh (trừ máng ăn, máng uống) 1 lần. Xịt từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 10 bằng dung dịch Biocide 2% với 0,5 lít/m2 chuồng trại lúc trời nắng.

DSC019501. Chuẩn bị điều kiện nuôi
Trước khi đem gà về nuôi cần chuẩn bị đầy đủ mọi điều kiện vật chất, kỹ thuật như:
– Chuồng nuôi, rèm che, cót quây, chụp sưởi ấm, máng ăn, máng uống. Tất cả phải được khử trùng trước khi sử dụng từ 5-7 ngày.
– Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y, vaccine cần thiết cho đàn gà.
– Chuồng nuôi phải đảm bảo thoáng mát mùa hè, kín ấm vào mùa đông.
– Nền chuồng thiết kế đúng kỹ thuật, cao ráo, thoát nước.
– Chất độn chuồng: Trấu, dăm bào sạch, dày 5cm -10cm được phun sát trùng trước khi sử dụng.
– Đảm bảo lưu thông không khí trong chuồng nuôi.
a. Chuồng trại
– Chọn khu đất cao ráo, thoáng mát để xây dựng chuồng gà. Nên làm chuồng theo hướng Đông hoặc Đông Nam để hứng được nắng buổi sáng và tránh được nắng buổi chiều.
– Nếu nuôi nhốt hoàn toàn, chú ý mật độ nuôi thích hợp (8 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên sàn; 10 con/m2 nếu nuôi gà thịt trên nền).
– Nếu nuôi gà thả vườn, chuồng là nơi để tránh mưa nắng và ngủ đêm, mật độ vườn thả gà đủ điều kiện ít nhất 1con/m2.
– Mặt trước cửa chuồng hướng về phía Đông Nam. Sàn chuồng làm bằng lưới hoặc tre thưa cách mặt đất 0,5m để tạo độ thông thoáng, khô ráo, dễ dọn vệ sinh.
– Rào chắn xung quanh vườn bằng lưới B40, lưới nilon, tre gỗ… tùy điều kiện nuôi của từng hộ. Ban ngày khô ráo thả gà ra sân, vườn để gà có khỏang không chơi, buổi tối cho gà về chuồng.
b. Lồng úm gà con
– Kích thước 2m x 1m, cao chân 0,5m đủ nuôi cho 100 con gà.
– Sưởi ấm cho gà bằng đèn (hai bóng 75W dùng cho 100 con gà).
c. Máng ăn
– Khi gà còn nhỏ (1-3 ngày tuổi) rải thức ăn trên giấy lót trong lồng úm cho gà ăn.
– Khi gà 4-14 ngày tuổi cho gà ăn bằng máng ăn cho gà con.
– Trên 15 ngày cho gà ăn máng treo.
d. Máng uống
Đặt hoặc treo xen kẽ các máng uống với máng ăn trong chuồng hoặc vườn. Thay nước sạch cho gà 2-3 lần/ngày.
e. Bể tắm cát, máng cát sỏi cho gà
– Gà rất thích tắm cát.
– Đối với gà nuôi chăn thả phải xây bể chứa cát, tro bếp và diêm sinh cho gà tắm. Kích thước bể dài 2m, rộng 1m, cao 0,3m cho 40 gà.
– Đặt một số máng cát, sỏi hoặc đá nhỏ xung quanh nơi chăn thả để gà ăn, giúp gà tiêu hóa thức ăn tốt hơn.
f. Dàn đậu cho gà
– Gà có tập tính thích ngủ trên cao vào ban đêm để tránh kẻ thù và giữ ẩm cho đôi chân, tránh nhiễm bệnh. Do đó nên tạo một số dàn đậu cho gà ngủ trong chuồng.
– Dàn đậu làm bằng tre, gỗ (không nên làm bằng cây tròn vì trơn gà khó đậu). Dàn cách nền chuồng khoảng 0,5m, cách nhau 0,3-0,4m để gà khỏi đụng vào nhau, mổ nhau và ỉa phân lên nhau.
Làm ổ đẻ cho gà để nơi tối. Một ổ đẻ cho 5-10 con gà mái.
Vườn chăn thả: 1 m2/ 1gà.
2. Chọn giống
– Nuôi thịt: Chọn giống gà Tàu vàng, gà Đông Tảo, gà Nòi, gà Tam Hoàng, gà Lương Phượng…..
– Nuôi gà lấy trứng thương phẩm: Chọn những giống gà đẻ nhiều như gà Tàu Vàng, gà Tam Hoàng, gà BT1, gà Ri….
Chọn giống gà con
– Chọn gà con càng đồng đều về trọng lượng càng tốt.
– Chọn những con nhanh, mắt sáng, lông bông, bụng gọn, chân mập.
– Tránh chọn những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, xệ bụng, lỗ huyệt bết lông, cánh xệ, có vòng thâm đen quanh rốn.
Chọn gà đẻ tốt
– Chọn con có trọng lượng không quá thấp, không quá mập, lúc 20 tuần tuổi đạt 1,6-1,7 kg thì rất tốt.
– Đầu nhỏ, mỏ ngắn đều, mồng tích to, đỏ tươi.
– Mắt sáng, lông mượt xếp sát vào thân, bụng phát triển mềm mại.
– Hậu môn rộng màu hồng tươi và ẩm ướt.
– Khoảng cách giữa xương chậu và xương ức rộng độ 3-4 ngón tay, giữa hai xương chậu rộng gần 2-3 ngón tay xếp lại.
3. Chăm sóc nuôi dưỡng
– Nên vận chuyển gà con vào lúc sáng sớm hoặc chiều mát, tránh những ngày mưa bão hay áp thấp nhiệt đới. Đưa gà vào chuồng úm, cho gà uống nước pha Electrotyle hoặc VitamineC, chỉ cho gà ăn tấm nấu hoặc tấm, bắp nhuyễn ngâm sau khi gà nở ít nhất là 12 giờ, tiếp tục cho ăn uống như thế đến 2 ngày. Sang ngày thứ 3 thì pha với lượng tăng dần thức ăn công nghiệp hoặc tự trộn phụ phế phẩm.
– Trộn thuốc cầu trùng vào trong thức ăn cho gà từ ngày thứ 7 trở đi, dùng Rigecoccin 1gr/10kg thức ăn (hoặc dùng Sulfamid trộn tỷ lệ 5%).Thay giấy lót đáy chuồng và dọn phân mỗi ngày sạch sẽ.
– Rửa máng ăn, máng uống sạch sẽ, quan sát tình trạng ăn uống đi đứng của gà, nếu thấy con nào buồn bã, ủ rũ cần cách ly ngay để theo dõi.
– Dùng bóng đèn tròn 75W úm cho 1m2 chuồng có che chắn để giữ nhiệt, tùy theo thời tiết mà tăng giảm lượng nhiệt bằng cách nâng hoặc hạ độ cao của bóng đèn.
– Quan sát thấy nếu gà nằm tụ quanh bóng đèn là gà bị lạnh, tản xa bóng đèn là nóng, nằm tụ ở góc chuồng là bị gió lùa và gà đi lại ăn uống tự do là nhiệt độ thích hợp.Thắp sáng suốt đêm cho gà trong giai đoạn úm để phòng chuột, mèo và để gà ăn nhiều thức ăn hơn.
– Thường xuyên quan sát biểu hiện của đàn gà để kịp xử lý những bất thường xảy ra. Khi thời tiết thay đổi nên cho gà uống nước pha Electrolyte hoặc Vitamine C.
– Do tập tính của gà thường uống nước cùng lúc với ăn, nên đặt máng ăn và máng uống cạnh nhau để gà được uống nước đầy đủ mà không uống nước dơ bẩn trong vườn.
– Nếu là gà nuôi thịt thì không cần cắt mỏ. Đối với gà đẻ để giảm hiện tượng cắn mổ nhau thì nên cắt mỏ (chỉ cắt phần sừng của mỏ) vào tuần 6-7.
– Ánh sáng: Dùng ánh sáng tự nhiên ban ngày, ban đêm thắp đèn cho gà ăn tự do, dùng máng ăn tự động hình trụ 50 con/máng đổ đầy thức ăn cho 1 ngày đêm, sáng sớm trước khi cho ăn nên kiểm tra và loại bỏ thức ăn thừa hoặc phân trấu dính vào máng ăn. Không thả rèm (chỉ thả khi trời mưa bão lạnh). Cứ 2 tuần 1 lần cân 10% tổng số gà để tính trọng lượng bình quân.
– Chú ý trong khi nuôi hoặc chủng ngừa cần loại những con còi cọc, nhốt và nuôi riêng để đạt tỷ lệ đồng đều cao.
– Phân gà được hốt dọn thường xuyên (nếu nuôi lồng) hoặc cuối đợt (nếu nuôi trên nền trấu) và phải được đem ủ kỹ với vôi bột 3 tháng sau mới đem dùng.
– Khi gà đạt trọng lượng 2kg thì xuất bán. Chú ý xuất và chở gà đi lúc trời mát và xe chuyên dùng phải có hệ thống thông gió tránh gà chết ngạt hàng loạt. Nếu chở đi xa tốt nhất chở vào ban đêm tới nơi giết thịt trời vừa sáng là tốt nhất.
– Phải đưa gà đến các cơ sở giết mổ tập trung và phải có dấu của thú y mới được bán.
Chú ý: Không nuôi nhiều cỡ gà trong 1 chuồng, trước khi nuôi đợt mới cần phải sát trùng toàn bộ chuồng trại, dụng cụ.
4. Thức ăn cho gà
– Gà là một trong số con vật nhạy cảm, nên tuyệt đối không cho gà ăn thức ăn bị ôi mốc, nhiễm nấm, thối rữa.
– Có thể sử dụng thức ăn công nghiệp hoặc tận dụng các phụ phế phẩm công nông nghiệp, sao cho đảm bảo các thành phần: Năng lượng, đạm, khoáng và Vitamine. Khống chế lượng thức ăn và đảm bảo chất lượng thức ăn đối với gà hậu bị để gà không bị mập mỡ làm giảm sản lượng trứng.
– Đối với gà thả vườn thì vấn đề khoáng và vitamine không quan trọng bằng gà nuôi nhốt, vì chúng sẽ tự tìm kiếm theo nhu cầu của cơ thể.
Sau giai đoạn úm có thể cho gà ăn thêm rau xanh. Nên nuôi thêm trùn đất và giòi là nguồn cung cấp đạm dồi dào cho gà.
– Ngày đầu tiên chỉ cho gà uống nước, ăn tấm hoặc bắp nhuyễn. Thức ăn mỗi lần rải một ít để thức ăn luôn thơm ngon kích thích tính thèm ăn của gà.
– Những ngày kế tiếp tập dần cho gà ăn sang thức ăn công nghiệp. Cho gà ăn nhiều bữa trong ngày, ăn tự do.
– Nếu sử dụng máng treo để cho gà phải thường xuyên theo dõi điều chỉnh độ cao của máng để gà ăn một cách thoải mái và tránh rơi vãi thức ăn.
– Nước uống phải sạch và đầy đủ cho gà uống, gà sống lâu hơn nếu thiếu thức ăn hơn thiếu nước.
– Cho gà ăn tự do suốt quá trình nuôi, để đèn ban đêm cho gà ăn càng nhiều càng tốt, khi chuyển thức ăn từ loại này sang loại khác phải làm từ từ. Phương pháp chuyển thức ăn như sau:
Ngày
Thức ăn số 1(%)
Thức ăn số 2 (%)
1
75
25
2
50
50
3
25
75
4
0
100
5. Vệ sinh phòng bệnh
– Vệ sinh phòng bệnh là công tác chủ yếu, đảm bảo “Ăn sạch, ở sạch, uống sạch”. Nền chuồng và vườn thả phải luôn khô ráo, sạch sẽ, không để ao tù nước đọng trong khu vườn thả.
– Áp dụng nghiêm ngặt lịch phòng vaccine tuỳ theo từng địa phương. Ngoài ra, dùng kháng sinh phòng một số bệnh do vi trùng, đặc biệt đối với gà thả nền thì cần phải phòng bệnh cầu trùng khi cho xuống nền và thả vườn.
a. Những nguyên nhân gây bệnh
– Gia cầm non, gia cầm bị suy yếu, giống mẫn cảm với bệnh.
– Môi trường sống:
+ Thức ăn không cân bằng dinh dưỡng dễ làm con vật mắc bệnh.
+ Nước uống phải sạch.
+ Không khí, nhiệt độ ….
b. Sức đề kháng của cơ thể gia cầm
– Mỗi con vật đều có một hàng rào cơ học để tự bảo vệ cơ thể.
– Sức đề kháng do con người tạo bằng cách tiêm các loại vaccin phòng bệnh (sức đề kháng chủ động).
c. Các biện pháp vệ sinh phòng bệnh
+ Vệ sinh phòng bệnh
– Thức ăn tốt.
– Nước sạch.
– Con giống có khả năng chống đỡ với bệnh tật cao.
– Chuồng nuôi sạch.
– Quanh chuồng nuôi phải phát quang.
– Thực hiện tốt qui trình thú y về vệ sinh phòng bệnh.
+ Phòng bằng Vaccine
Lịch chủng ngừa
STT Ngày tuổi Loại Vacxin Cách dùng
1 3 ngày Niu-cat-xơn hệ 2 (lần1) Nhỏ mắt
2 7 ngày Gumburo (lần 1) + Đậu Nhỏ mắt, chích cánh
3 14 ngày Gumburo lần 2 Nhỏ mắt
4 21 ngày Niu-cat-xơn (lần 2) + IB Nhỏ mắt
5 28 ngày Gumburo (lần 3) Nhỏ mắt
6 49 ngày Cúm gia cầm H5N1 Chích bắp thịt
Chú ý: Lịch chủng ngừa trên chỉ là tham khảo, tùy từng vùng người nuôi có quy trình chủng ngừa phù hợp. Trong qúa trình nuôi nếu đến lịch chủng ngừa mà gà có biểu hiện bệnh thì không chủng mà phải điều trị cho gà khỏi hẳn thì mới chủng ngừa, nếu gà đang bị bệnh mà chủng ngừa thì gà sẽ bệnh nặng thêm và hiệu lực của vaccine cũng giảm.
+ Lưu ý khi dùng vaccine phòng bệnh
– Chỉ dùng khi đàn gia cầm khỏe.
– Lắc kỹ vaccine trước và trong khi dùng.
– Vaccine mở ra chỉ sử dụng trong ngày, dư phải hủy bỏ.
Dùng vitamin để tăng bồi dưỡng cho gia cầm.
+ Phòng bằng thuốc:
– Bệnh ở đường tiêu hóa: Oxyteracilin, chloramphenicol…
– Bệnh đường hô hấp: Tylosin, Tiamulin,…
Không dùng một loại kháng sinh liên tiếp trong các liệu trình. Mỗi liệu trình phòng bệnh khoảng 3-4 ngày là đủ
6. Một số bệnh thường gặp ở gà
6.1. BỆNH CẦU TRÙNG
Nguyên nhân: Bệnh lan truyền do gà ăn phải thức ăn, uống nước có lẫn các noãn bào. Bệnh dễ lây truyền từ chuồng này sang chuồng khác, nơi này sang nơi khác do con người, súc vật… vô tình mang các noãn bào này đi xa. Tốc độ sinh sản nhanh của các cầu trùng khiến bệnh dễ bộc phát.
Bệnh cầu trùng thường làm tăng tỷ lệ tử vong cho gà nhỏ, gà phát triển chậm, yếu, dễ bị bội nhiễm các bệnh khác.
Mức độ gây bệnh tùy thuộc vào phương thức nuôi, nuôi trên sàn lưới ít mắc bệnh hơn nuôi trên nền.
Triệu chứng: Gà ủ rũ, xù lông, chậm chạp, phân đỏ hoặc sáp nhiều khi có máu tươi. Gà đẻ vỏ trứng mỏng, tỷ lệ đẻ giảm.
Bệnh tích: Manh tràng sưng to, chân đầy máu. Ruột sưng to. Trong đường tiêu hóa có dịch nhầy và máu.
Phòng bệnh: Vệ sinh phòng bệnh chặt chẽ, đặc biệt không để nền chuồng, chất đọng làm chuồng ẩm ướt.
– Dùng thuốc trộn vào thức ăn hay pha nước uống cho gà.
– Sử dụng một trong các loại thuốc sau (dùng trong 3 ngày): Anticoc 1gr/1 lít nước; Baycoc 1ml/ 1 lít nước.
Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi liều phòng.
6.2. BỆNH THƯƠNG HÀN (Salmonellosis)
Nguyên nhân: Do vi khuẩn gây ra, bệnh có thể truyền trực tiếp từ gà mẹ sang gà con và cũng có thể nhiễm gián tiếp qua thức ăn, nước uống bị nhiễm mầm bệnh.
Triệu chứng: Gà ủ rũ, phân trắng loãng, hôi thối. Gà đẻ trứng giảm, trứng méo mó, mào tái nhợt nhạt hoặc teo.
Bệnh tích:
Gà con: Gan sưng, có điểm hoại tử trắng, niêm mạc ruột viêm loét lan tràn.
Gà đẻ: Gan có điểm hoại tử trắng, túi mật sưng to, buồng trứng đen tím, trứng non dị hình méo mó.
Phòng bệnh: Bằng các biện pháp vệ sinh tổng hợp. Có thể dùng kháng sinh để phòng bệnh: Oxytetracyclin: 50-80mg/gà/ngày, dùng trong 5 ngày. Chloramphenical: 1gr/5-10 lít nước, dùng trong 2-3 ngày.
Trị bệnh: Tăng liều gấp đôi so với liều phòng bệnh.
6.3. BỆNH DỊCH TẢ (Newcastle disease)
Nguyên nhân: Bệnh do virus gây ra, bệnh lây lan mạnh. Chủ yếu lây qua đường tiêu hóa, tuy nhiên bệnh cũng có thể lây qua dụng cụ chăn nuôi. Gà ở mọi lứa tuổi đều mắc bệnh.
Triệu chứng: Thường biểu hiện ở 2 thể: Cấp tính và mãn tính.
+ Thể cấp tính: Bệnh xuất hiện đột ngột, gà chết nhanh không biểu hiện rõ triệu chứng. Thường rụt cổ, ngoẹo đầu vào cánh, ủ rũ, nhắm mắt mê man bất tỉnh, sau đó chết.
– Khó thở, nhịp thở tăng, hắt hơi (con vật há mồm, vươn cổ thở).
– Tiêu chảy phân màu xanh – trắng, diều căng đầy hơi.
– Một số con chảy dịch nhờn ở mắt, mũi. Tích, mào tím xanh.
Nếu sau 4-5 ngày gà không chết sẽ xuất hiện triệu chứng thần kinh: Gà vận động tròn theo một phía, đi đứng không vững. Gà giảm đẻ, vỏ trứng mềm.Tỷ lệ chết từ 50-90%.
Thể mãn tính: Những gà bị bệnh kéo dài sẽ chuyển sang thể mãn tính. Triệu chứng chủ yếu ở đường hô hấp, thở khò khè, kém ăn, giảm đẻ…. Gà trở thành vật mang trùng. Tỷ lệ chết 10%.
Bệnh tích: Biến đổi tùy thuộc vào thời gian kéo dài bệnh, lứa tuổi và độc lực của virus. Dạ dày tuyến xuất huyết, có dịch nhầy ở ruột già.
Phòng bệnh: Chủ yếu là bằng vaccine.
Trị bệnh: Dùng các thuốc tăng sức đề kháng:Vitamix, vit-plus,…
6.4. BỆNH GUMBORO
Nguyên nhân: Do virus. Gà thường mắc bệnh ở 4-8 tuần tuổi.
Triệu chứng: Phân lúc đầu loãng, trắng, nhớt nhầy, sau loãng nâu.
– Gà sút nhanh, run rẩy. Tỷ lệ nhiễm bệnh rất nhanh: 2-5 ngày toàn đàn bị nhiễm.Tỷ lệ chết: 10-30%.
– Gà thịt thường phát bệnh sớm hơn (ở giai đoạn 20-40 ngày).
Bệnh tích: Cơ đùi xuất huyết đỏ thành vệt. Bệnh mới phát túi Fabricius sưng to.
– Ngày thứ 2: Thận sưng nhạt màu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy.
– Ngày thứ 3: Xuất huyết lấm tấm hoặc thành vệt cơ đùi, cơ ngực.
– Ngày thứ 5,6,7 túi Fabricius teo nhỏ, cơ đùi, cơ ngực tím bầm.
Phòng và trị bệnh:
– Phòng bệnh bằng vệ sinh: Định kỳ tiêu độc sát trùng chuồng trại thường xuyên mỗi tháng và sau mỗi đợt nuôi.
– Phòng bằng vaccine.

Thông tin liên hệ:
Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại: 

A. Thanh: 0908906938

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Xin giới thiệu một số phương pháp ấp trứng gà thủ công?

 

Xin giới thiệu một số phương pháp ấp trứng gà thủ công?Xin giới thiệu một số phương pháp ấp trứng gà thủ công?

Xin giới thiệu một số phương pháp ấp trứng gà thủ công!

–   Phương pháp dùng gà mái ấp trứng: Thường áp dụng ở hộ gia đình với các giống địa phương. Chọn gà khỏe mạnh, lông phát triển, cánh dài, tính dữ cho ấp trứng. Hàng ngày cho gà ăn đầy đủ, ở gần ổ ấp 1 – 2 lần. Kiểm tra thường xuyên xem trứng có đảm bảo nhiệt độ không. Mùa hè nên đặt ổ ấp nơi thoáng mát, ngược lại; mùa đông có thể đặt ổ ấp gần bếp hay trong phòng kín tránh gió lùa. Khi gà nở hết, chuyển cả mẹ và gà con xuống nền nhà có trải chất độn (trấu, dăm bào, cỏ khô,…), nếu thấy lạnh cần sưởi ấm cho gà con. Đốt ổ ấp để phòng trừ mò, mạt…-   Ấp trứng bằng pho: Pho là một hình trụ có đường kính 60-80cm, cao tùy lượng trứng cần đưa vào ấp. Vật liệu làm pho có thể là bồ, sọt tre, thùng gỗ xung quanh gheo rơm ra,. Có thể dùng nguồn cấp nhiệt cho pho bằng thóc lép, trấu rang (phương thức truyền thống) hay bằng đèn. Loại bỏ trứng không có phôi, kém chất lượng, làm sạch, sát trùng trứng trước khi đưa vào ấp. Cho 25 – 30 quả trứng vào mỗi túi lưới.

Sử dụng thóc lép hoặc trấu rang làm nguồn cấp nhiệt: rang trấu hoặc thóc lép đạt 40 – 41°C đổ vào đáy bồ 15cm. Đặt các túi trứng vào pho rải đều. Một lớp trứng phủ một lớp thóc dày l0cm. Trên cùng, phủ một lớp bao tải hoặc chăn bông để giữ ấm, đảm bảo nhiệt độ trong pho luôn giữ ở 37 – 37,5°C (đặt nhiệt kế đo nhiệt độ trong pho). Khi nhiệt độ trong pho thấp hơn, phải thay thóc nóng khác. Hàng ngày đảo trứng 4 lần, cách nhau 6 tiếng cho đến khi trứng nở. Cần đảo trứng từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài để tất cả được đủ nhiệt và đủ ẩm như nhau.

Nếu sử dụng đèn cấp nhiệt thì không cần phải rang thóc. Đèn để ở dưới đáy pho, ống dẫn nhiệt cao bằng pho có đục lỗ nhỏ cách nhau 5-6cm nhằm tỏa nhiệt dễ dàng, đường kính 10 – 15cm. cần làm ấm pho 15-20 phút trước khi cho trứng vào. Các khâu khác giống trên.

– Ấp trứng bằng máy ấp dùng nước nóng: Trên và dưới máy có 2 két nước dày 5 – 7cm được nối với nhàu bằng một số ống dẫn có đường kính 2 – 3cm. Két đáy chính là nồi đun. Đổ đầy nước từ phía trên, đun nước bằng bếp. Khi nước trên két nóc đạt 42 – 430C ta cho các khay trứng vào. Lúc này nhiệt độ trong khoang máy ấp đạt 38oC. Dưới đáy khoang máy đặt khay bông thấm nước để cấp ẩm. Trong tủ đặt nhiệt kế và ẩm kế, có cửa kính trên cánh cửa để quan sát để điều chỉnh cho thích hợp. Đảo trứng bằng tay, quay 6 – 8 lần mỗi ngày, cách nhau 3-4 giờ. Trứng đặt trên khay đầu to phía trên, để nghiêng về cùng một phía. Khi gà mổ vỏ, cần hé cửa để điều hòa không khí.

Thông tin liên hệ:
Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại: 

A. Thanh: 0908906938

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Kỹ thuật ấp trứng gia cầm

 

Kỹ thuật ấp trứng gia cầmKỹ thuật ấp trứng gia cầm

Ấp trứng gia cầm

1. Điều kiện để ấp trứng gia cầmĐiều kiện và phương pháp ấp trứng gia cầm
 a. Thời gian: 
Thời gian để ấp trứng vịt là 28 ngày, ấp trứng ngan( vịt xiêm), ngỗng là 30 ngày, trứng cút là 17 ngày, trứng đà điểu là 43 ngày, trứng gà là 21 ngày. Tuy vậy có thể dao động: trứng nhỏ nỏ trước từ 5-10 giờ, trứng to nở muộn hơn so với quy định 5-10 giờ. Từ đặc điểm này, nếu có điều kiện cần phân loại trứng có khối lượng to , nhỏ khác nhau cho vào cúng khay để dễ theo dõi trứng nỏ tập trung, cùng lúc. Không nên áp chung các loại trứng gia cầm khác loài trong cùng một lò vì chế độ nhiệt của mỗi loài là khác nhau.
b. Nhiệt độ 
Trứng mới vào lò còn lạnh  nên 3-4 ngày đầu cần cung cấp nhiệt độ cao hơn các giai đoạn ấp sau: Đối với trứng gà, trứng vịt và trứng ngan xấp xỉ 380C (phụ thuộc vào điều kiện từng nơi ấp), sau đó giảm nhiệt độ từ từ, đến 3-4 ngày trước khi nở nhiệtđộ giảm 0,5-10C. Trong những ngày nóng, cần hạ nhiệt độ phòng ấp bằn cách mở lò ấp, phun nước ấm( 35-360C), phun nước làm mát phòng ấp.
c. Độ ẩm:
Những ngày đầu tiên yêu cầu nhiệt độ cao, yêu cầu độ ẩm cũng cao để giảm bớt sự bốc hơi nướctrong trứng. Đến giữa thời kì ấp, do việc trao đổi chất của phôi tăng, lượng nước nội sinh tạo ra cần phải thoát ra ngoài trứng nên yêu cầu nhiệt độ lò ấp và phòng ấp giảm đi. Vào vài ngày cuối của thời kỳ ấp, sự trao đổi chất của phôi mạnh nhất, nhiệt độ của trứng tăng lên cao nhất nên nhiệt độ của lò ấp phải giảm nhưng đồng thời ẩm độ của lò phải tăng (phun nước ấm lên trứng )để vừa hạ nhiệt trứng vừa tánh gà nở bị sát vỏ và chết tắc.
 d. Không khí
Không khí rất cần cho sự tao đổi khí của phôi vì vậy lò ấp phải đủ thông thoáng, khí trong lò ấp phải được lưu thông đều. Đảo trứng cũng là cách để điều hoa nhiệt độ, ẩm độ và không khí tại mọi vị trí của quả trứng.

2. Phương pháp ấp trứng
Có nhiều phương pháp ấm trứng:

–               Ấp tự nhiên: dùng gà mẹ để ấp trứng.

–               Ấp nhân tạo với phương pháp thủ công: ấp bằng thóc trấu rang, ấp bằng đèn điện, ấp bằng nước nóng…
–               Ấp bằng máy ấp tự động: Hiện đang có nhiều loại máy ấp tự động với quy mô từ vài ngàn đến vài vạn trứng. Hiện trên thị trường đang có nhiều loại máy của Hà Lan, Mỹ, Hungari, Trung Quốc…với nhiều tính năng hiện đại và hoàn toàn tự động.

Thông tin liên hệ:
Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại: 

A. Thanh: 0908906938

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấpHưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

Hưỡng dẫn cách soi trứng gà theo từng chu kỳ ấp

Vào ngày thứ 2 sau khi ấp bắt đầu soi

Vào ngày 2 sau khi ủ bắt đầu
Đầu bắt đầu xảy ra cùng với đôi mắt và tim và các mạch máu bắt đầu phát triển.

Ngày thứ 4
Não bộ được chia thành các não trước, não giữa, và não sau này.
Trái tim phát triển lớn hơn và các mạch máu lan rộng vào các phim của lòng đỏ.

Ngày thứ 6
Cánh và chân tay bắt đầu xuất hiện và bộ não và mắt trở nên rõ ràng.
Phôi bắt đầu di chuyển của chính nó.

Ngày thứ 8
Bộ não được giải quyết vào đầu hoàn toàn.
Cổ trở nên dài hơn, dự luật phát triển đáng kể; và cánh và chân tay được tách ra.

Ngày thứ 10
Cánh và chân tay được tách hoàn toàn và hình thức các ngón chân.
Tip tip phá vỏ trứng bắt đầu xảy ra và lông bắt đầu phát triển.

Ngày thứ 12
Nó trở nên lớn hơn và bắt đầu nghe thấy lần đầu tiên. Lông phát triển để bạn có thể nhìn thấy chúng và khung trở nên rắn.

Ngày thứ 14
Với sự đầu hạ xuống về phía thân cây, lại bị bẻ cong sang trái.
Lông che phủ toàn bộ cơ thể với người đứng đầu về phía buồng khí.

Ngày thứ 16
Khi đầu di chuyển đến dưới cánh phải, nó lắng xuống ở một vị trí tốt cho nở

Ngày thứ 18
Lượng nước ối giảm và con con chuẩn bị cho nở.
Đó là thời gian để dừng đảo trứng. tới đây là thành gà vịt lộn rồi đấy ăn rất bổ

Ngày thứ 19
Buồng không khí trở nên lớn hơn và lòng đỏ được giải quyết trong cơ thể.
Dự luật này được tổ chức ra về phía buồng phổi không khí và hơi thở bắt đầu.

Ngày thứ 20
Lòng đỏ này được giải quyết hoàn toàn trong cơ thể và rốn không đóng được.
Lòng đỏ đó vào trong cơ thể sẽ trở thành một dinh dưỡng cho 2-3 ngày sau khi ủ úm.

Ngày thứ 21
Gà bắt đầu sử dụng mỏ phá vỏ trứng để phá vỡ vỏ.
Theo thời gian, nó sử dụng tay chân để đẩy vỏ và quay vòng để phá vỡ nó tròn.
Độ ẩm thấp có thể gây ra lông khô-up để dính vào vỏ, ngăn chặn các con con từ quay tròn và vì thế từ khi nở.
Nó mất khoảng 1- 2 giờ để phá vỡ vỏ hoàn toàn và được ra khỏi quả  trứng.

Thông tin liên hệ:
Mọi thông tin liên lạc quý bà con nông dân có thể liên lạc theo:
Số điện thoại: 

A. Thanh: 0908906938

A. Tri: 0122.709.6664

Email: aptrunggiacam@gmail.com
Website: http://aptrunggiacam.com/

Xin cảm ơn sự ghé thăm của bạn.

Giới thiệu máy ấp trứng HITACH3D

Qua quá trình tìm hiểu các loại máy ấp trứng gia cầm hiện có trên thị trường chúng tôi nhận thấy:
Máy ấp trứng
– Tỉ lệ trứng nở chưa cao
–  Việc vân hành máy khó khăn
– Sửc khỏe của gia cầm sau khi nở không được đảm bảo
– Tiêu tốn nhiều điện năng
– Các máy chỉ tập trung ấp được một loại trứng
– Giá thành sản phẩm còn cao
……

Cùng với kinh nghiệm thực tế trong chăn nuôi nhiều năm cơ sở ấp trứng gia cầm của chúng tôi đã liên kết với ICA Lab  để cho ra đời sản phẩm máy ấp trứng mới với hiệu suất cao. Chúng tôi gọi tên máy này là HITACHI3D_V1.0. Với tiêu chí máy ấp trứng là công cụ “Khơi dậy mầm sống” Sau đây chúng tôi xin giới thiệu vài nét chính về sản phẩm này đến quý bà con nông dân được biết

Hình 1: Hình dáng bên ngoài máy ấp trứng HITACHI3D_V1.0

Công nghệ điều khiển nhiệt độ và độ ẩm của máy HITACHI3D_V1.0:

Đối với máy ấm trứng, hai yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến tỷ lệ nở của trứng đó là nhiệt độ và độ ẩm. Các máy ấp trứng hiện có trên thị trường điều khiển nhiệt độ và độ ẩm theo giải thuật ON/ OFF nghĩa là khi nào nhiệt độ và độ ẩm trong máy thấp hơn yêu cầu thì máy mới cung câp điện cho bộ phận phát nhiệt và bộ phận tạo độ ẩm, khhi nhiệt độ trong thùng máy cao hơn yêu cầu thì ngắt điện do vậy nhiệt độ và độ ẩm trong thùng máy có tỷ lệ dao động rất cao, không đảm bảo chọ sự phát triển phôi trứng trong quá trình ấp. HITACHI3D_V1.0 sử dụng công nghệ Fuzzy -PID để diều khiển nhiệt độ và độ ẩm với độ chính xác cao.

Hình 2: Biểu đồ đo lường nhiệt độ của máy khi diều chỉnh ở mức nhiệt 37.5oC

Hệ thống điều nhiệt:
Máy sử dụng  hai quạt được gắn ở bộ phận phát nhiệt hoạt động liên tục đảm bảo các phần khác nhau trong thùng máy luôn có nhiệt độ như nhau.
Hệ thống bơm nước tự động
Máy được trang bị một máy bơm nhỏ có khả năng bơm nước tự động đảm bảo khay nước luôn luôn có nước trong quá trình vận hành
Cách vận hành máy dễ dàng
Máy được trang bị bàm phím bốn nút, và mà hình LCD để hiển thị kết quả, giúp điều chỉnh các thông số dễ dàng.
Kết quả vận hành máy
Kết quả thực nghiệm cho thấy tỷ lệ ấp nở của máy ấp trứng gia cầm là 98%, gia cầm sau khi ấp có sức khỏe tốt. Với việc sở hữu một máy ấp trứng gia cầm HITACHI3D_V1.0 trong tay, công việc chăn nuôi của bạn chưa bào giờ dễ dàng như vậy
Sau đây là một số hình ảnh của máy ấp trứng HITACHI_3D: